thầy thuốc đông y
Danh Mục Chính
  Thực Phẩm Chức Năng
  Danh Sách Phòng Khám

  Danh Sách Bệnh Viện
  Bài Thuốc Y Học Cổ Truyền
  Video
  Hỏi Đáp
Thầy Thuốc Đông Y
  Bùi Thị Năm
  Trần Quốc Hoàn
  Bác sĩ nhân dân
  Amway Advisor
  Ms Cathy
  Mis Hana
  Mr DHA
  Vũ Văn Khánh
  Vũ Thị Hải Phượng
  Nguyễn Thị Thùy Dương
HLV Dinh Dưỡng
  Amway Advisor
  Ms Cathy
  Mis Hana
Khí Công Dưỡng Sinh
  Mr DHA
Danh Mục Bệnh
 
  Ung Thư Đại Tràng

UNG THƯ ĐẠI TRÀNG LÀ GÌ
Đại Cương

Ung thư đại tràng ở nước ta là loại ung thư ít gặp, đứng vào hàng thứ 9 thứ 10 trong tổng số các loại ung thư. Riêng đối với tiêu hoá, ung thư đại tràng vào loại hiếm gặp nhất, chỉ nhiều hơn ung thư thực quản. Bệnh ung thư ngày càng có xu hướng phát triển nhiều hơn, ví dụ như ung thư gan, dạ dày, phổi... chẳng hạn, ung thư đại tràng cũng có xu hướng tăng lên, nhưng với tốc độ chậm hơn và với tỉ lệ ít hơn nhiều so với các ung thư khác. Một đặc điểm nổi bật của ung thư đại tràng là sự tiến triển chậm chạp so với các loại ung thư khác, nếu được phát hiện sớm ở giai đoạn ung thư còn tại chỗ và được cắt bỏ kịp thời có trường hợp có thể sống trên 10 năm đến 20 năm- nói chung nếu phát hiện sớm và mổ, tỉ lệ sống còn đến 5 năm là 90 - 95%; nếu phát hiện muộn thì tỉ lệ đó khoảng 40%. Do đó chẩn đoán sớm ung thư đại tràng là hết sức quan trọng.
Tại khoa tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai, ung thư đại tràng rất ít gặp. Theo thống kê của khoa trong 3 năm thì ung thư đại tràng ít hơn các ung thư khác như sau: ung thư gan 7,5 lần, ung thư dạ dày 2,5 lần, ung thư tụy tạng 1,5 lần, ung thư hệ lympho 1,5 lần. Phần lớn các bệnh nhân đều đến viện muộn hoặc do tuyến dưới phát hiện muộn đến khi quá rõ mới gửi đi.
Đại tràng là một ống dài khoảng 2 mét từ manh tràng đến hậu môn. Khối ung thư có thể phát sinh ở bất kì chỗ nào của đại tràng. Nhưng người ta thường thấy có những vị trí mà ung thư hay phát sinh hơn cả. Riêng ở trực tràng là một đoạn ngắn khoảng 20cm thôi, ung thư ở đây đã chiếm tới non nửa tổng số ung thư đại tràng. Hơn nữa, triệu chứng lâm sàng, diễn biến cũng như chẩn đoán cũng có những đặc điểm riêng của nó, so với ung thư đại tràng phần còn lại. Do đó chúng tôi không đề cập đến ung thư trực tràng trong bài này, mà chỉ giới hạn vào ung thư đại tràng phần còn lại mà thôi.

UNG THƯ ĐẠI TRÀNG LÀ GÌ
Đại Cương
I - TÍNH CHẤT DỊCH TỄ HỌC UNG ĐẠI TRÀNG
A- SỰ PHÂN BỐ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
B - GIỚI TÍNH NÀO MẮC BỆNH UNG ĐẠI TRÀNG NHIỀU HƠN
C- TUỔI NÀO MẮC BỆNH UNG ĐẠI TRÀNG NHIỀU HƠN
II. NGUYÊN NHÂN UNG ĐẠI TRÀNG
A- TÌNH TRẠNG TIỀN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
2. Tổn thương ung thư mạn tính:
3. Bệnh Crohn:
B- CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CHO BỆNH UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
III – GIẢI PHẪU BỆNH
A- ĐẠI THỂ

- VI THỂ
C- PHÂN LOẠI ĐỘ PHÁT TRIỂN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

D- VỊ TRÍ CỦA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
IV - TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
A- CÁC TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG THƯÒNG GẶP TRONG BỆNH UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
B- TRIỆU CHỨNG TOÀN THÂN BỆNH UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
C- TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
D- THỂ LÂM SÀNG
V. CẬN LÂM SÀNG
1. Công thức máu:
2 .Tìm máu trong phân:
3. Soi trực tràng và đại tràng:
4. Soi ổ bụng:
5. Chụp X quang khung đại tràng:
VI. DIỄN BIẾN VÀ BIẾN CHỨNG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
2 . Chảy máu dữ dội:
3. Nhiễm khuẩn:    
4. Thủng:
6. Di căn của bệnh ung thư đại tràng:
VII - CHẨN ĐOÁN
A- CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
B- CHẨN ĐOÁN SỚM UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
C- CHẨN DOÁN PHÂN BIỆT UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
VIII - ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
A- ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
B- ĐIÈU TRỊ NGOẠI KHOA

ung thư đại tràng

I - TÍNH CHẤT DỊCH TỄ HỌC UNG ĐẠI TRÀNG
A- SỰ PHÂN BỐ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG


Trên thế giới rất không đều nhau, ở Pháp mỗi năm có 29.000 người bị ung thư đại tràng, và 15.000 người chết vì bệnh này, tỉ lệ tử vong cho 100.000 dân mỗi nước cũng khác nhau, ví dụi Ecosse, Canada là 14,4 - 15,3 còn Phần Lan, Nhật Bản là 3,5 - 6. Dựa vào tỉ lệ tử vong cho 100.000 dân người ta thấy có hai nhóm nước có nguy cơ bị ung thư đại tràng khác nhau.
- Nhóm nước như Phần Lan, Chi Lê, Nhật Bản có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày (cả 2 giới) thì ngược lại có nguy cơ thấp bị ung thư đại tràng (với cả hai giới).
- Nhóm nước như New Zealand, Canada, Ecosse, Mỹ da trắng có nguy cơ thấp bị ung thư dạ dày, thì ngược lại có nguy cơ cao bị ung thư đại tràng.
- Ngay ở trong cùng một nước tỉ lệ mắc bệnh cũng khác nhau, ví dụ ở Mỹ, vùng đông bắc mắc bệnh nhiều hơn các vùng khác. Người ta thấy những người Nhật Bản, người Ba Lan (nguy cơ thấp bị ung thư đại tràng) di cư vào Mỹ vùng đông bắc (nguy cơ cao bị ung thư đại tràng) thì những người này cũng bị mắc bệnh nhiều như người Mỹ. Nhưng điều đó chứng tỏ yếu tố môi trường sống đóng vai trò quan trọng hơn là giống nòi trong việc phát sinh ung thư đại tràng. Theo chúng tôi, Việt Nam thuộc vào nhóm nưóc có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày, nhưng nguy cơ thấp bị ung thư đại tràng. 

B - GIỚI TÍNH NÀO MẮC BỆNH UNG ĐẠI TRÀNG NHIỀU HƠN

Nói chung nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới rõ rệt. Nhưng cũng có những nước nữ giới lại bị nhiều hơn nam giới như Irland, Bồ Đào Nha. Ở Việt Nam, chúng tôi thấy nam mắc bệnh nhiều hơn nữ.


C- TUỔI NÀO MẮC BỆNH UNG ĐẠI TRÀNG NHIỀU HƠN


Đối với cả hai giới, càng nhiều tuổi tỉ lệ bệnh càng cao. Ở lứa tuổi 30 tỉ lệ bệnh khoảng 50% nhưng ở tuổi 50, tỉ lệ đó lên tới 65%.

II. NGUYÊN NHÂN UNG ĐẠI TRÀNG

Cho đến nay chưa biết rõ nguyên nhân ung thư đại tràng, do virus hay do hóa chất độc, hoặc nguyên nhân nào khác. Người ta đã dề cập đến các loại muối mật, các steroid mật trung tính coprostanol và coprotanoe, dưới tác dụng của vi khuẩn yếm khí sẽ chuyển thành các chất sinh ung thư, chất desoxicholat cũng chuyển thành 20 methylcholantren là một chất gây ung thư đã biết. Thực nghiệm trên chuột nếu cho thêm taurodesoxycholic hoặc desoxycholat vào chất gây ung thư đại tràng thì tỉ lệ ung thư đại tràng lên nhiều hơn nhóm chỉ có chất gây ung thư đơn độc. Dù sao người ta cũng biết rất rõ những tình trạng tiền ung thư đại tràng. Những tình trạng tiền ung thư này đóng vai trò khá quan trọng trong việc phát sinh ung thư đại tràng. Người ta thấy đại đa số ung thư đại tràng đều phát sinh trên những đại tràng không hoàn toàn bình thường mà trên đại tràng bị bệnh như polyp, viêm đại trực tràng chảy máu, Crohn...

A- TÌNH TRẠNG TIỀN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Polyp (hoặc adenome) là bệnh tiền ung thư đại tràng quan trọng nhất, hay gặp. Người ta đã khẳng định được rằng polyp có khả năng thoái hóa thành ung thư đại tràng dựa vào những bằng cớ dưới đây:
Có sự phù hợp giữa tần số ung thư đại tràng và polyp về phương diện vị trí, giới, tuổi.
- Càng nhiều polyp thì càng dễ ung thư hóa.
- Bệnh polyp gia đình thì 100% trường hợp bị ung thư hóa. Theo Morson tỉ lệ polyp bị ung thư hóa là như sau: Polyp thường là 4,8%, polyp có lông là 40,1% polyp loại hỗn hợp là 22,5%. Lúc đầu chỉ ở niêm mạc, hoàn toàn không xâm phạm đến các tổ chức đệm, sau đó xâm nhập lớp đáy của niêm mạc nhưng chưa tới chân polyp, cuối cùng ung thư hóa sẽ lan tới thành đại tràng. Người ta giải thích sự ung thư hóa của polyp như sau:
    + ở những polyp sự sinh sản của tế bào diễn ra ở bề mặt của ống tuyến. Sự phát triển tế bào càng ít thì càng có ít tế bào không biệt hóa và càng ít ung thư hóa, lúc đó ta gọi là loạn sản nhẹ. Sự phát triển tế bào càng mạnh, càng nhiều tế bào không biệt hóa gọi  
là bệnh loạn sản vừa. Nếu sự phát triển tế bào nhiều hơn nữa, tế bào không biệt  hóa lan rộng chiếm toàn bộ polyp, đôi khi có hình lông ta gọi là loạn sản năng. Người ta nhận thấy loạn sản nhẹ chiếm khoảng 30,7%, loạn sản vừa chiếm; 22,3% loan sản nặng chiếm 37,9% và 9,1% polyp có ung thư. Tuổi càng cao thì loạn sản nặng và ung thư,hóa càng nhiều, polyp càng to thì càng dễ loạn sản, polyp dưới 5mm chỉ có 2%, lọan sản, dưới 15mm là 27% và trên 20mm tỉ lệ loạn sản nặng tăng lên 50%. 
Xếp loại polyp theo tế bào học.
Xếp loại cũ                                                        Xếp loại mới
Polyadenom biệt hóa rõ                                     Loạn sản nhẹ
Polyadenom không biệt hóa dưới 1/3    
Polyadenom không biệt hóa dưới 2/3                 Loạn sản vừa
Polyadenom không biệt hóa                               Loạn sản nặng
Hoàn toàn
Polyadenom có lông 
Polyadenom có ổ ung thư tại chỗ

2. Tổn thương ung thư mạn tính:

Bệnh viêm đại trực tràng chảy máu cũng được coi là tình trạng tiền ung thư đại tràng. Người ta thấy nhóm người bi viêm loét đai tràng chảy máu trên 10 năm tỉ lệ bị ung thư hóa gấp 10 lần ở nhóm người bình thường. Nếu viêm đại tràng chảy máu ở lứa tuổi trẻ dưới 25 tuổi lại càng dễ ung thư hóa hơn nữa. Người ta cũng nhận thấy lứa tuổi của ung thư đại tràng trên người có viêm đại tràng chảy máu thường trẻ, khoảng 40 tuổi, nghĩa là sớm hơn tuổi của các nhóm ung thư đại tràng trên người bình thường 15 - 20 năm.

3. Bệnh Crohn:

Cũng được coi là cơ địa tiền ung thư đại tràng nhưng với tỉ lệ ít hơn. Tuổi bị Crohn càng trẻ (dưới 21 tuổi) thì càng dễ bị ung thư hóa. Người ta nhận thấy thời gian ít nhất phải 10 năm mới bị ung thư hóa.

B- CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CHO BỆNH UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Cũng có ảnh hưởng đến tỉ lệ phát triển ung thư. Chế độ thừa mỡ động vật, giầu cholesterol, thiếu chất xơ dễ tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư đại tràng phát triển.
Người ta giải thích như sau:
Dưới tác dụng của vi khuẩn các steroiđ của mật sẽ thành các steroid acid là những chất có hại có khả năng gây ung thư như đã nói ở trên. 
- Vai trò của mỡ: mỡ cô đọng các steroid acid mật nếu giảm ăn mỡ thì lượng steroid mật bài tiết theo phân cũng giảm. Mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn yếm khí phát triển, nhất là các vi khuẩn có hoạt tính liên hợp glycuronic, các vi khuẩn này có vai trò rất quan trọng trong việc chuyển hóa các steroid mật. Người ta thấy ở người ung thư đại tràng, vi khuẩn yếm khí phát triển rất mạnh hơn ở người bình thường, và các steroid acid mật cũng nhiều hơn.
- Vai trò các chất xơ (bán celulose, celulose, pectin, phénylpropan hay lignine) có tác dụng chống lại sự tấn công của các men tiêu hóa và làm nhiệm vụ bảo vệ che chở cho niêm mạc đại tràng khỏi bị tấn công bởi các yếu tố gây ung thư. Người ta nhận thấy ở những nước hoặc khu vực quen ăn thức ăn có nhiều xơ thì tỉ lệ ung thư cũng ít hơn hẳn những nơi quen ăn thức ăn ít xơ. Người ta cho rằng, chất xơ một mặt làm giảm thời gian ứ đọng phân, nghĩa là làm tăng sự đào thải các chất sinh ung thư, mặt khác làm giảm thời gian tác dụng của vi khuẩn đối với các muối mật nghĩa là làm giảm thời gian sản xuất các chất sinh ung thư.

III – GIẢI PHẪU BỆNH
A- ĐẠI THỂ

Thường gặp 3 thể chính sau đây:
- Thể sùi: hay thể não. Khối u to, sủi vào trong lòng ruột, xen kẽ với sùi và loét. Các nụ sùi giống các nụ hoa hoặc súp lơ, mào gà.
- Thể Xơ: làm hẹp lòng đại tràng, có khi lòng đại tràng hẹp chỉ còn như sợi chỉ, có khi hẹp kiểu chuôi dao chỗ hẹp dài thành một đoạn. Khối u thường xơ cứng, bị loét, hoại tử.
- Thể kẽ: Tổn thương ở thành ruột làm cho đoạn ruột bị dày lên và cứng, lòng ruột bị hẹp lại.
- Người ta nhận thấy tùy theo vị trí của khối u mà tỉ lệ các hình thái ung thư trên đây có khác nhau. Ở đại tràng thì 97% là các adenocarcinom liberkuhnien, thể sùi loét hoại tử dễ chảy máu. ở đại tràng trái và góc phải đại tràng ngang thìhủ yếu là xơ, hẹp. ở đại tràng ngang, thể loét xâm nhiễm là hay gặp.

B- VI THỂ

Cũng có 3 thể chính:
- Ung thư liên bào tuyến điển hình (épithélio ma glandulaire – typyque ) hay gặp nhất liên bào trụ vẫn còn giữ được cấu trúc của tuyến. Chủ yếu adénocarcinom của tuyến liberkuhn điển hình. 
- Ung thư liên bào không điển hình (épithélioma atypique) hiếm gặp hơn, nhân và tế bào không có hình thái giả tuyến.
- Ung thư liên bào nhày (épithélioma coloide ou mucoide) và sarcom, rất hiếm gặp.

C- PHÂN LOẠI ĐỘ PHÁT TRIỂN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Dựa vào sự phát triển của tế bào ung thư tại thành ruột người ta chia làm 6 mức độ: 
T0: khối u mới phát triển tại chỗ.
T1: khối u chỉ phát triển ở niêm mạc.
T2: khối u phá hủy niêm mạc, lan đến sát lớp cơ và giới hạn ở lớp hạ niêm mạc. 
T3: khối u đã lan đến lớp cơ trong.
T4: khối u đã lan đến lớp cơ ngoài nhưng chưa xâm nhập thanh mạc.
T¬5: khối u đã xâm nhập vào thanh mạc nhưng chỉ từng phần.
T6: khối u đã xâm nhập toàn bộ lớp thanh mạc và các cơ quan lân cận.

Dựa vào tình trạng các hạch:
Gg0: chưa có di căn hạch.
Ggl: di căn vào hạch đối diện với khối u. Gg2: di căn vào hạch ở xa.
Dựa vào tình trạng tắc mạch:
E0: không có tắc mạch
El: đã có tắc mạch.


D- VỊ TRÍ CỦA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG


Phân bố khống đêu trên toàn bộ chiều dài của đại tràng. Theo Connecticus, dựa trên 40.771 trường hợp ung thư đại trực tràng thì sự phân bố đó như sau:
Trực tràng (15 - 20cm trở lên tính từ hậu môn) chiếm 45,7%.
Đại tràng xichma chiếm 25,3%
Đại tràng xuống chiếm   5,7 - 5,9%
Đại tràng ngang chiếm   12,4 - 11,7%
Đại tràng lên chiếm        13,4 - 19,3%.
Như vậy ung thư trực tràng đã chiếm 50%, ung thư đại tràng xichma chiếm gần 1/4, đại tràng phần còn lại chiếm 1/4.
Nếu bỏ ung thư trực tràng ra thì người ta thấy ung thư đại tràng phải (từ manh tràng đến 2/3 đại tràng ngang) chiếm 40% ung thư đại tràng, tức là 20% tổng số ung thư đại trực tràng. Còn ung thư đại tràng trái chiếm 60% ung thư đại tràng, tức là 30% ung thư đại trực tràng. Như vậy ung thư đại tràng trái nhiều hơn gấp rưỡi so với ung thư đại tràng phải, sở dĩ như vậy là vì ung thư đại tràng xichma chiếm tỉ lệ khá lớn trong ung thư đại trực tràng, nhiều hơn 1,15 lần ung thư phần đại tràng còn lại.
Cụ thể sự phân bố ung thư đại tràng ở từng vị trí là như sau, so với toàn bộ ung thư đại tràng (không kể ung thư trực tràng).
ở manh tràng 11,6%, đại tràng lên và góc phải chiếm 12,2%, đại tràng ngang chiếm 10,5%, góc trái 5,7%, đại tràng xuống chiếm, 7,7% và đại tràng xichma là 50,5%. Xếp  theo thứ tự nhiều ít như sau:
1 - Nhiều nhất là ung thư đại tràng xichma
2 - Rồi đến đại tràng lên và góc phải, ung thư manh tràng.
3 - Sau đó là đại tràng ngang
4 - Đại tràng xuống.
5 - Góc trái đại tràng.
Ở Việt Nam sự phân bố ung thư đại trực tràng cũng tương tự như trên.

IV - TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Tùy theo vị trí khối u mà thể hiện những triệu chứng lâm sàng khác nhau. Về mặt cơ năng, các triệu chứng thường biểu hiện những hậu quả của khối u như tắc ruột hoặc bán tắc ruột, rối loạn vận chuyển phân và nhiễm khuẩn khối u

A- CÁC TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG THƯÒNG GẶP TRONG BỆNH UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Đau bụng: là triệu chứng thường gặp trong 60 - 80% trường hợp, mức độ đau từ nhẹ (đau âm ỉ) đến nặng, đau thành cơn dữ dội. Vị trí đau tương ứng với vùng ung thư. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đau không tương ứng với vị trí ung thư. Ví dụ khối u đại tràng phải nhưng đau thượng vị. Cơn đau kéo dài nhất thường có khi chỉ 15 phút, có khi tới vài giờ hoặc lâu hơn nữa, càng về sau cơn đau càng kéo dài hơn, cơn đau có thể mất đi đột ngột, xuất hiện đột ngột. Đau là do khối u phát triển, nhưng cũng có khi có liên quan đến tắc ruột.
Tắc ruột, bán tắc ruột: hậu quả của khối u là làm hẹp lòng đại tràng ngày càng hẹp hơn, do đó sớm hoặc muộn cũng sẽ xuất hiện những triệu chứng của tắc ruột hoặc bán tắc ruột, ở mức độ nhẹ; triệu chứng Bouveret: đau âm ỉ hoặc có cảm giác nặng nặng bụng, chướng bụng: ở mức độ nặng hơn, hội chứng Koenig: đột ngột lên cơn đau bụng; nôn hoặc buồn nôn, bụng óc ách nhiều hơi, sau vài giờ khỏi hẳn. Kết thúc bằng việc đi ngoài lỏng hoặc đánh trung tiện.
Tắc ruột điển hình: do hậu quả của khối u làm hẹp lòng đại tràng hoặc do khối u gây lồng ruột rồi đi đến tắc ruột đột ngột đau bụng, nôn hoặc buồn nôn, bụng chướng hơi, các quai ruột nổi lên như rán bò, bí trung đại tiện.
Rối loạn vận chuyển phân: táo bón hoặc ỉa chảy nhưng nhẹ, phân lỏng hoặc sền sệt, vài lần trong ngày. Có khi táo bón và ỉa lỏng xen kẽ. Phân có thể nhầy mũi.
ỉa lỏng: có thể ỉa máu tươi cuối bãi, hoặc dính vào phân bọc ngoài cục phân. Có khi đi ngoài phân đen. Có thể ỉa máu tươi đơn thuần hoặc kèm theo nhầy mũi làm cho phân giống như phân kiết lị và dễ nhầm với hội chứng- lị.

B- TRIỆU CHỨNG TOÀN THÂN BỆNH UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Đôi khi là triệu chứng gợi ý đầu tiên: gầy, sút cân, có khi sút 4 - 5kg trong một tháng mệt mỏi, thiếu máu do mất máu rỉ rả mà người bệnh không biết. Sốt do bị nhiễm khuẩn khối u hoặc không do nhiễm khuẩn. Sốt không nhiều và không kéo dài. Ăn uống kém.

C- TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Ngoài triệu chứng toàn thân như gầy, xanh xao, thiếu máu, bụng chướng hơi và đau, triệu chứng quan trọng nhất là sờ thấy khối u với đặc tính: cứng, lồi lõm, cố định hoặc di động. Có khi sờ bụng cũng thấy, có trường hợp phải thăm trực tràng mới thấy. Có khi do tình cờ mà phát hiện thấy khối u do chính người bệnh, hoặc do thầy thuốc vô tinh sờ thấy. Tuy nhiên, cũng chỉ có khoảng 70% trường hợp sờ thấy khối u mà thôi.

D- THỂ LÂM SÀNG

Ngoài thể điển hình với đầy đủ các triệu chứng lâm sàng trên đây, còn có những thể lâm sàng không điển hình.
1. Theo triệu chứng:
- Thể giả viêm ruột thừa: đau hố chậu phải, điểm Mac Burney (+) kèm theo có sốt hoặc nôn, ung thư manh tràng có thể gặp thể này.
- Thể viêm túi mật: đau hạ sưòn phải.
- Thể tiết niệu: đau mạn sườn, có đái buốt, đái dắt, do ung thư đã di căn vào bàng quang hay niệu quản.
- Thể viêm ruột: giống viêm ruột cấp tính, thể hiện bằng đau bụng và ỉa lỏng nhiều lần trong ngày, có điều khác là dùng kháng sinh không có kết quả và ỉa chảy thường kéo dài.
- Thể ỉa máu tươi: thỉnh thoảng lại có một đợt ỉa máu tươi làm cho dễ nhầm với trĩ hoặc polyp.
- Thể lồng ruột mạn tính: đột nhiên có triệu chứng tắc ruột; đau bụng, nổi cuộn ở bụng, bụng chướng, bí trung đại tiện. Khám có thể thấy boudin: khối lồng ruột hoặc có thể tự tháo, hoặc sau khi thụt tháo, sau khi thụt baryt để chụp khung đại tràng. Sau một thời gian có thể tái phát. Do đó, đứng trước một người lớn tuổi (ngoài 50) bị lồng ruột nhất là lồng ruột tái phát bao giờ cũng phải xem có khối u đại tràng không, 90% trường hợp là tìm thấy khối u, ít khi không có nguyên nhân hoặc do nguyên nhân khác.
2. Theo vị trí khối u:
- Ung thư manh tràng: thường âm thầm, rất lâu mới xuất hiện triệu chứng. Nhưng nếu có tổn thương van Bohin thì sớm xuất hiện hội chứng Koenig hoặc lồng ruột.
- Ung thư góc phải: thường ẩn rất lâu, dễ nhầm với ung thư túi mật, gan.
- Ung thư góc trái: thường biểu hiện bằng triệu chứng tắc ruột, có thể gây biến chứng viêm tấy quanh thận, áp xe dưới cơ hoành trái.
- Ung thư đại tràng xichma: thường thể hiện bằng triệu chứng tắc ruột và rối loạn phân, ỉa máu hoặc máu mũi.
- Ung thư ở nhiều nơi: tuy hiếm, nhưng rất khó chẩn đoán.

V. CẬN LÂM SÀNG
1. Công thức máu:

Không có gì đặc biệt ngoài hồng cầu giảm, thiếu máu nhược sắc.

2 .Tìm máu trong phân:

Đại đa số đều có máu trong phân tuy không phải là triệu chứng đặc hiệu nhưng là một triệu chứng rất thường có, nó có giá trị chẩn đoán sớm ung thư đại tràng, xét nghiệm này tương đối đơn giản, dễ thực hiện.

3. Soi trực tràng và đại tràng:

- Nếu như ung thư trực tràng thì soi trực tràng bằng ống cứng có thể thấy được khối u, nếu khối ung thư ở cao hơn thì phải soi đại tràng bằng ống soi mềm. Đây là phương pháp rất cần thiết để chẩn đoán khẳng định cũng như phân biệt ung thư đại tràng. Chúng ta có thể thấy các tổn thương.
- Polyp đơn độc hay đa polyp, phải sinh thiết mới thấy được ác tính hóa của các polyp này.
- Một vùng cứng dễ chảy máu, chung quanh có gờ nổi lên.
- Một vùng cứng dễ chảy máu, ở giữa bị loét.
- Khối u loét và sùi.
Khối u thường ăn lan theo chiều vòng tròn làm lòng ruột bị hẹp lại, có khi rất hẹp chỉ đút lọt đầu bút chì làm cho không đưa đèn soi qua được, chỉ nhìn thấy chỗ hẹp đó thôi. Đại đa số các trường hợp niêm mạc trực tràng không bình thường mà có biểu hiện của một viêm mạn tính không đặc hiệu, hoặc thấy rõ tổn thương của bệnh viêm trực tràng chảy máu.
Sinh thiết: rất quan trọng để chẩn đoán xác định, qua đèn soi có thể tiến hành sinh thiết khối u một cách dễ dàng.

4. Soi ổ bụng:

cũng là một phương pháp chẩn đoán đơn giản, trong một số trường hợp có thể thấy được khối u xuất phát từ đại tràng, nhưng cũng có một số trường hợp khó biết vì khối u dính với các tạng chung quanh hoặc bị mạc nối che phủ.

5. Chụp X quang khung đại tràng:

Là một phương pháp chẩn đoán phổ biến, nhưng thường muộn. Có hai phương pháp: chụp đầy, nghĩa là thụt baryt đầy vào toàn bộ khung đại tràng rồi chụp hoặc cho thuốc cản quang chờ đến khi thuốc xuống đại tràng rồi chụp, với phương pháp chụp đầy chỉ thấy được những khối u to và lan rộng, những khối u nhỏ rất khó thấy.
Chụp đối quang kép: bơm một khối lượng nhỏ baryt đồng thời bơm hơi để giãn mỏng lớp baryt bám trên mặt niêm mạc đại tràng. Đây là một phương pháp hiện đại, cho phép thấy rõ khối u hơn, kể cả khối u nhỏ chưa lan rộng chu vi thành ruột. Tuy nhiên, so với phương pháp soi đại tràng thì vẫn muộn hơn và không rõ ràng bằng.
Trên phim X quang chúng ta có thể gập các hình ảnh như sau:
- Hỉnh ổ loét to nằm giữa hình huyết không đều tạo thành hình mũ ni (ménisque).
- Hình khuyết không đều với một đám ngấm thuốc không đều.
- Hình hẹp và cứng một đoạn.    ...
- Hình móc.
- Hình cắt cụt đại tràng: thuốc cản quang ngừng lại chỗ khối u không qua được phía bên kia.
Về phương diện X quang cũng cần phải phân biệt với một số hình ảnh dễ nhầm lẫn như:
- Cục phân do tháo thụt chưa kĩ, dễ nhầm với khối u tạo thành hình khuyết.

Khối u ngoài đè vào đại tràng.
- Co thắt đại tràng. Đó là tình trạng bình thường. Đại tràng bị hẹp lại ở một đoạn có khi chỉ bằng chiếc tăm nhưng vẫn mềm mại, hai bên đại tràng co thắt đều nhau.
- Viêm đại tràng đo túi thừa.
Khối u không phải ung thư: khối u do amip, do lao hoặc bệnh Crohn. Hình ảnh các khối u này rất giống ung thư đại tràng nên rất khó phân biệt.
Về phương diện sinh học cần định lượng kháng nguyên bào thai: (antigène carcinoembrynraire) gọi tát là CEA. Đây là một glycoprôtêin có trọng lượng phân tử 200.000 do các tế bào khối u, đặc biệt các khối u đường tiêu hóa tiết ra. Gold và Feedman lần đầu tiên tìm ra kháng nguyên này năm 1965.
Kháng nguyên này có thể giúp cho chẩn đoán ung thư đường tiêu hóa, đặc biệt là ung thư đại trực tràng, nó cũng giúp cho việc theo dõi kết quả mổ. Tuy nhiên kháng nguyên này cũng có nhiều trường hợp âm tính hoặc dương tính giả như đái đường, viêm phế quản mạn, các khối u ngoài đường tiêu hóa kể cả khối u lành tính, xơ gan... Do đó, kháng nguyên này không phải là kháng nguyên đặc hiệu để chẩn đoán ung thư đại tràng. Nhưng nó rất có giá trị để tiên lượng kết quả phẫu thuật. Nếu CEA dưới 2,5 mg/ml thì 80% trường hợp sống trên 20 năm, nếu CEA trên 5mg/ml thì chỉ còn 25%. Nếu CEA dưới 25mg/ml thì còn khả năng phẫu thuật, nếu trên l00mg/ml thì không còn khả năng phẫu thuật nữa vì đã có di căn nhiều nơi. Cần phải định lượng CEA trước và sạu phẫu thuật, nếu sau phẫu thuật mà không thấy CEA giảm đi, hoặc lại tăng lên chứng tỏ khối u tái phát hay đã di căn

VI. DIỄN BIẾN VÀ BIẾN CHỨNG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Nếu được chẩn đoán sớm và cắt bỏ kịp thời thì 40% sống trên 5 năm. So với các ung thư khác thì tỉ lệ sống sót sau mổ của ung thư đại tràng nhiều hơn, nhưng đáng tiếc là bệnh nhân thường đến muộn vì ung thư đại tràng có thời kì tiềm tàng rất kéo dài. Do đó có những bệnh nhân đến bệnh viện với những biến chứng là những triệu chứng đầu tiên của bệnh. Những biến chứng thường gặp là:
Tắc ruột:
Do khối u làm hẹp quá nhiều lòng đại tràng, phân đọng lại gây tắc, hoặc do lồng ruột, hoặc do dính ruột gây ra. Tắc ruột có thể từ từ, có thể xảy ra đột ngột. Ung thư đại tràng trái hay bị tắc ruột hơn ung thư đại tràng phải.

2 . Chảy máu dữ dội:

Hiếm gặp, nếu có thường là ung thư manh tràng hoặc đại tràng xichma.

3. Nhiễm khuẩn:    

Thường gặp hơn, nhất là u góc phải, góc trái.
- Có thể nhiễm khuẩn tại khối u.
- Nhiễm khuẩn chung quanh khối u và lan ra cơ quan lân cận gây viêm tấy quanh thận, áp xe dưới cơ hoành... nhưng rất hiếm gây viêm phúc mạc toàn thể.
- Nhiễm khuẩn máu: rất hiếm gặp nhưng không phải là không có.

4. Thủng:

Thường thủng tại khối u do bị hoại tử hoặc do nhiễm khuẩn gây ra viêm phúc mạc toàn thể. Có thể thủng ở xa ngoài khối u do đoạn ruột bị giãn lâu ngày phân ứ đọng
làm cho thành ruột bị mỏng và kém bền vững, thường thủng ở manh tràng hay hồi tràng. Có khi thủng do nhân tạo ví dụ khi tháo thụt, chụp khung đại tràng...

5. Lỗ rò:

Khối u dính với các tổ chức và cơ quan lân cận, tổ chức ung thư xâm nhập các cơ quan đó và gây ra thủng tạo thành lỗ rò như túi mật, tá tràng, dạ dày, bàng quang. Có khi có lỗ rò ra ngoài thành bụng làm cho phân cũng theo ra, có khi cả giun chui ra. Lỗ rò thành bụng có thể tạo thành đường hầm đi rất xa như rò ra phía mông, xương đùi... ung thư manh tràng hay gây rò nhất.

6. Di căn của bệnh ung thư đại tràng:

Đầu tiên là di căn vào các hạch trong ổ bụng, vào gan, bộ phận sinh dục nữ, sau đó di căn xa hơn như vào phổi, hạch thượng đòn...

7. Suy kiệt, thiếu máu do ung thư đại tràng:

Là kết quả tất yếu của mọi loại ung thư.


VII - CHẨN ĐOÁN
A- CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH


Cần chú ý một số triệu chứng có tính chất gợi ý ở người trên 40 tuổi:
l. Có đau bụng âm ỉ ở vị trí nhất định kèm theo một số rối loạn khác như rối loạn phân và vận chuyển phân có tính chất kéo dài, gầy sút cân...
2. Không đau bụng nhưng thiếu máu, sút cân.
3. Ỉa ra máu tươi kéo dài dù ít mà không tìm thấy nguyên nhân như: trĩ, polyp hoặc viêm loét trực tràng...
4.Triệu chứng tác ruột, lồng ruột: triệu chứng Bouveret, Koenig, tắc ruột điển hình.
Những trường hợp trên nếu sờ thấy khối u bụng thì càng chắc chắn.
Khẳng định chẩn đoán bằng các phương pháp sau:
- Tìm máu trong phân, định lượng CEA trong máu.
- Soi trực tràng, đại tràng và sinh thiết khối u.
Chụp X quang khung đại tràng và nhất là chụp đối quang kép.
- Soi ổ bụng nếu cần, nhất là để xem có di căn gan chưa.
- Trong trường hợp có ỉa máu tươi kéo dài, có thể chụp động mạch mạc treo đại tràng.

B- CHẨN ĐOÁN SỚM UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

    Là một vấn dề khó khăn vì ung thư đại tràng thường có thời kì ủ bệnh rất lâu. Việc chẩn đoán sớm cần tập trung vào hai nhóm người: 
- Những người trên 40 tuổi.
Những người có rối loạn tiêu hóa kéo dài mà thường được chẩn đoán là viêm đại tràng mạn tính, bệnh đại tràng cơ năng sau lị, lị amip mạn tính, hội chứng lị, ...
Những người trên cần được tiến hành một số biện pháp chẩn đoán sơ bộ:
- Tìm máu trong phân bằng cách thử trên giấy có tẩm nhựa Gaiac. Bệnh nhân phải nhịn ăn thịt, không được uống rượu, và uống vatamin c trong 4 ngày: Xét nghiệm này có thể tiến hành định kì hàng năm hoặc nửa năm một lần.
2.Soi trực tràng hàng loạt cho những người trên 40 tuổi nếu có polyp thì sinh thiết polyp, bằng phương pháp này có thể phát hiện polyp ung thư hóa ở giai đoạn rất sớm.
3. Ở những người cơ địa tiền ung thư cần theo dõi định ki CEA nếu có thay đổi bất thường cần tiến hành những biện pháp chẩn đoán nghiêm ngặt hơn nhự soi đại tràng, sinh thiết, chụp X quang đại tràng, chụp động mạch đại tràng, ,v.v...
Bằng những biện pháp tìm máu trong phân, người ta có thể chẩn đoán sớm 47% ung thư ở giai đoạn không có triệu chứng, 85% ung thư ở giai đoạn chưa lan tới lớp thanh mạc. Tiến hành điều tra 11.503 người bằng Hémococult thấy 1% dương tính, trong đó 55% là polyp, 12% ung thư, 33% là các nguyên nhân khác.

C- CHẨN DOÁN PHÂN BIỆT UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Trên lâm sàng thường nhầm ung thư đại tràng với một số trường hợp:
1. Viêm dại tràng mạn, hội chứng lị:
Đây là một chẩn đoán nhầm hay xẩy ra nhất, không bao giờ nên dừng lại chẩn đoán trên khi chưa khám xét ti mỉ và làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết, ở ta bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật đường ruột thường phổ biến và để lại những di chứng kéo dài, do đó thường hay đổ tội cho viêm đại tràng mạn tính do lị amip, mà mất cảnh giác với ung thư.
2. Những nguyên nhân gây chảy máu tươi:
Trĩ, polyp u mạch đo quá sản mao mạch ruột, những nguyên nhân trên đôi khi rất khó phát hiện khi chúng ở trên cao, chụp X quang có khi cũng không phát hiện được, phải soi đại tràng ống mềm, chụp đại tràng đối quang kép hoặc chụp động, mạch mạc treo mới thấy được..
3. Tác ruột, lồng ruột:
Ở người trẻ tuổi hoặc trẻ em tắc ruột thường không có nguyên nhân hay.có nguyên nhân như búi giun, dày dính, ở người lớn đứng trước một bệnh cảnh tắc ruột dù cấp hay mạn thường có nguyên nhân là khối u. Do đó cần phải tìm nguyên nhân này.
4. Cần phân biệt với các khối u ngoài đại tràng:
Như u gan, dạ dày, lách, u thận, thượng thận kể cả khối u của bộ máy sinh dục. Đặc biệt khối u hệ lympho như Hodgkin, và không Hodgkin, chúng có thể nầm ở thành ống tiêu hóa và cũng tạo nên những triệu chứng lâm sàng và X quang giống như ung thư đại tràng. Chúng cũng có thể nằm ngoài ống tiêu hóa ở hạch mạc treo và cũng gây triệu chứng lâm sàng giống như ung thư đại tràng như đau bụng, ỉa lỏng, bán tác ruột... chỉ có thể phân biệt với chúng bằng cách sinh thiết các khối u thành ruột hoặc khối u hạch mạc treo.
5. Các khối u dại tràng không phải ung thư:
- Với lao ruột: rất hay nhầm với ung thư manh tràng vì lao ruột thường gặp ở manh tràng. Ngoài manh tràng, lao ruột cũng có thể xảy ra ở bất cứ chỗ nào của đại tràng do đó cũng cần phải phân biệt.
- Với bệnh Crohn: trước đây người ta cho rằng bệnh Crohn chi khu trú ở hồi tràng nhưng gần đây người ta thấy ở các vị trí khác của đại tràng bất củ chỗ nào. Do đó cũng cần phải phân biệt.
- Với bệnh viêm đại tràng chảy máu: bệnh này cũng có biểu hiện lâm sàng giống như ung thư trên X quang cũng có thể gây hẹp đại tràng, do đó có thể nhầm với ung thư.
Muốn chẩn đoán phân biệt các bệnh trên, cách tốt nhất là nội soi đại tràng và sinh thiết. Nếu không thì nên điều trị thử bằng thuốc đặc hiệu và theo dõi kết quả.
Với u do amip: rất hiếm, thường hay gặp ở manh tràng và đại tràng lên, tốt nhất là cứ điều trị thử bằng thuốc chống amip.


VIII - ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
A- ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG


Cho đến nay chưa có biện pháp điều trị hữu hiệu nào chữa khỏi hoàn toàn được bệnh. Chủ yếu là điều trị triệu chứng và mổ cắt bỏ khối u. Có điều khác với ung thư khác là kết quả của phẫu thuật khả quan hơn. Bệnh nhân sống lâu hơn, 40% sống được 5 năm, nếu phát hiện sớm nhất là những trường hợp polyp ung thư hóa thì bệnh nhân có thể còn sống lâu hơn nữa, 10 năm, 20 năm.
1. Điều trị triệu chứng: Chống đau, chống ỉa chảy và chế độ ăn uống tốt, bệnh nhân thường thiếu máu thì truyền máu và các dịch thay thế, làm sao nâng cao thể trạng của bệnh nhân để họ có thể chịu đựng được các biện pháp điều trị khác. 
2. Thường là phối hợp với phẫu thuật trước và sau khi mổ liều mỗi đợt 3500 rads, trường hợp khối u quá to không mổ được thì dùng liều cao hơn 5000 rads.
3. Hóa học trị liệu:
Cũng thường để phối hợp với phẫu thuật trước và sau khi mổ. Trường hợp không mổ được, cần phối hợp với chiếu tia, dùng hóa chất đơn thuần ít kết quả. Thuốc thường dùng là 5FU và Vincristine riêng rẽ hay phối hợp với nhau.
4. Miễn dịch trị liệu:
Người ta đã dùng BCG và levamisol nhưng không mang lại kết quả, dù cho phối hợp với phẫu thuật. Do đó, hiện nay không áp dụng.

B- ĐIÈU TRỊ NGOẠI KHOA

Mổ cát bỏ khối u, chí định là:
- Khối u không to quá.
- Chưa có di căn đi xa như vào phổi, hạch ngoại biên...
- Thể trạng cho phép
- Tuổi không cao quá.
Phương pháp:
- Cắt bỏ toàn bộ đại tràng
- Cắt bán phần, từng phần
- Nối thông ruột đại tràng, vẫn để lại khối u
- Làm hậu môn nhân tạo.
Điều quan trọng nhất là phải cắt bỏ rộng và lấy hết các hạch lân cận.
Kết quả: tử vong sau mổ 10% đối với cắt bán phần, 2 - 3% đối với cắt từng phần đại tràng. Thời gian sống 5 năm chiếm 40% chung cho toàn bộ đại tràng, nhưng đối với ung thư đại tràng phải, thường xuất hiện muộn hơn, chẩn đoán khó hơn. Ung thư đại tràng phải sống 5 năm sau mổ vào khoảng 50%, nhưng ung thư đại tràng trái , tỉ lệ đó vào khoảng 60%.
Tìm máu trong phân và phát hiện polyp đại tràng để cắt bỏ đi trước khi nó trở thành ung thư hóa là những việc làm tích cực nhất, chủ động nhất để đề phòng ung thư đại tràng và để hạ tỉ lệ tử vong của bệnh.

 
(E-mail)
 
Type the characters you see in the picture below.

 

1
Bài Viết Cùng Chuyên Mục
  Ung thư tuyến tiền liệt
  Ung thư vú
  Ung thư đầu cổ
  Ung thư dương vật
  Ung thư cổ tử cung
  Ung thư buồng trứng
  Ung thư máu triệu chứng, dấu hiệu và cách điều trị
  Ung thư Vòm họng.
  Ung thư phổi
  Ung thư hạch
  Ung thư da
  Ung thư tinh hoàn
  Ung thư thận
  Ung thư dạ dày
1
Tin Tức Cùng Chuyên Mục
 
 

Thông tin trên Website : www.thaythuocdongy.com  chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.