thầy thuốc đông y
Danh Mục Chính
  Thực Phẩm Chức Năng
  Danh Sách Phòng Khám

  Danh Sách Bệnh Viện
  Bài Thuốc Y Học Cổ Truyền
  Video
  Hỏi Đáp
Thầy Thuốc Đông Y
  Bùi Thị Năm
  Trần Quốc Hoàn
  Bác sĩ nhân dân
  Amway Advisor
  Ms Cathy
  Mis Hana
  Mr DHA
  Vũ Văn Khánh
  Vũ Thị Hải Phượng
  Nguyễn Thị Thùy Dương
HLV Dinh Dưỡng
  Amway Advisor
  Ms Cathy
  Mis Hana
Khí Công Dưỡng Sinh
  Mr DHA
Danh Mục Bệnh
 
  Viêm Đại Tràng Mạn

VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN LÀ GÌ
I- ĐẠI CƯƠNG VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

Viêm đại tràng mạn là bệnh rất hay gặp ở nước ta bệnh xuất hiện sau nhiễm khuẩn, nhiễm kí sinh vật ở ruột.bênh mạn tính có từng đợt nhiễm khuẩn.
Viêm đại tràng mang tính chất viêm nhiễm - loạn dưỡng tại ruột dẫn đến những thay đổi về hình thái niêm mạc đại tràng và cùng với rối loạn chức năng vận động chế tiết, hấp thu của đại tràng. Nét đặc trưng của bệnh là những thay đổi viêm tấy tại ruột như: phù nề, thâm nhiễm lymphoxyt và plasmocyt vào niêm mạc, với sự tiến triển tiếp theo của quá trình teo đét niêm mạc, tổn thương mao mạch, mạng thần kinh, mạch lympho trong thành ruột.

viêm đại tràng

VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN LÀ GÌ?
I- ĐẠI CƯƠNG VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
    A- NGUYÊN NHÂN VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
    B- BỆNH SINH VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
    C- PHÂN LOẠI VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
II- TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
III- TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
IV- CHẨN ĐOÁN VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
    A- CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH DỰA TRÊN CÁC CƠ SỞ SAU
    B- CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
V- ĐIỀU TRỊ VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
VI - PHÒNG BỆNH VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

A- NGUYÊN NHÂN VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

Những nguyên nhân của viêm đại tràng mạn hết sức đa dạng. Những nguyên nhân thường gặp sau:
1. Nhiễm khuẩn bao gồm các loại vi khuẩn gây hội chứng lị như: shigella, salmonella, v.v...
2. Nhiễm nguyên sinh động vật: amip, lamblia, balantidium, v.v... 
3. Nhiễm kí sinh vật. Các loại giuix. đặc biệt loại sống kí sinh ở đại tràng như giun đũa, giun kim, giun tóc, và các loại sán ruột.
4. Nhân tố ăn uống: Rối loạn chế độ ăn uống kéo dài không điều độ về thời gian, ăn uống quá lạm dụng các thức ăn không thích hợp gây kích thích tổn thương niêm mạc ruột.
5. Nhân tố cơ học: Táo bón lâu ngày do các nguyên nhân khác nhau.
6. Nhân tố di truyền. Do thiếu các men tiêu hóa bẩm sinh như các men phân hủy hydrocacbua,...
7. Nhiễm độc do thuốc hoặc hóa chất.
8. Ảnh hưởng của tia phóng xạ, quang tuyến.
9. Viêm đại tràng thứ phát sau bệnh lí của bộ máy tiêu hóa, viêm dạ dày - ruột, viêm túi mật, viêm đường mật, viêm tụy, viêm gan, v.v...

B- BỆNH SINH VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

Do tác động của các nhân tố bệnh căn khác nhau gây viêm nhiễm niêm mạc, tổn thương mạng thần kinh, rối loạn hệ vi khuẩn ruột làm thay đổi về số lượng chung và mối tương quan giữa các nhóm vi khuẩn cũng như các thuộc tính chung của từng loại vi khuẩn. Gây rối loạn quá trình lên men và thối rữa dẫn đến sự mẫn cảm của cơ thể với hệ vi khuẩn (tăng lượng kháng thể nội sinh đối với các kháng nguyên của ruột). Do kết quả trên dẫn đến rối loạn chức năng vận động, tiêu hóa, bài tiết và hấp thu của ruột.

C- PHÂN LOẠI VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

Đến nay chưa có bảng phân loại nào được mọi người công nhận.
Bảng phân loại của I.T.Abasev và A.M.Nogaler (1984) được đánh giá tốt và áp dụng trong thực tiễn lâm sàng.
1. Phân loại theo nguyên nhân gây bệnh. 
2. Theo vị trí tổn thương. Viêm đại tràng toàn thể, viêm theo từng vùng: manh tràng, đại tràng ngang, đại tràng xichma, trực tràng.
3. Theo những thay đổi về hình thái: 
- Viêm long trên bề măt, xuất tiết, lan tỏa
- Viêm trượt niêm mạc. 
- Viêm teo đét niêm mạc.
4. Theo diễn biến của bệnh: bệnh tái phát, bệnh tiếp diễn liên tục, hoặc xen kẽ.
5. Theo mức độ nặng nhẹ của bệnh: nhẹ, trung bình, nặng.
6. Theo những rối loạn chức năng:
- Rối loạn nhu động
+ Dạng tăng nhu động 
+ Dạng giảm nhu động 
+ Dạng không có rối loạn nhu động
Theo rối loạn tiêu hóa:
+ Dạng lên men chua
+ Dạng tăng thối rữa.
+ Dạng pha trộn cả hai loại trên.

II- TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

Biểu hiện rất đa dạng
1. Tình trạng toàn thân:
Thường ít thay đổi. Nếu có thay đổi chỉ gặp ở những bệnh nhân có suy nhược thần kinh, ở những người giữ chế độ ăn uống kiêng khem quá lâu ngày, bị gầy sút chỉ gặp ở 12 đến 26%. Bệnh tuy kéo dài nhưng người bệnh vẫn còn khả năng lao động.
2. Rối loạn tiêu hóa:
Miệng nhạt đắng, ăn không ngon miệng có thể có ợ, buồn nôn, sợ ăn, tự kiêng khem quá mức không đảm bảo dinh dưỡng hàng ngày đưa đến tình trạng mệt mỏi mất tính tích cực của con người, luôn cảm thấy khó chịu ở bụng, người bệnh lo lắng về bệnh tật của mình gây mất ngủ, làm cho tình trạng bệnh cảm thấy tăng lên.
3. Chướng hơi
Là triệu chứng thường gặp, nơi khu trú ở hai bên mạn sườn dọc theo khung của đại tràng, người bệnh luôn cảm thấy căng tức khó chịu, bệnh nhân tự cảm thấy hơi di chuyển trong ruột.
4. Đau bụng:
Là triệu chứng thường xuyên gặp. Đau ê ẩm phân dưới bụng hoặc đau dọc theo khung đại tràng, đau tăng lên sau khi ăn, trước khi đi đại tiện. Sau khi trung tiện hoặc đại tiện cường độ đau giảm đi. Nếu tổn thương ở ruột lan đến lớp thanh mạc hoặc khu vực lympho của mạc treo thì triệu chứng đau mang tính chất thường xuyên đặc biệt tăng lên khi vận động, di chuyển hay thụt tháo phân.
5. Rối loạn phân:
Cũng rất đa dạng, cùng trên một bệnh nhân có thể gặp ỉa chảy hoặc táo bón ở những thời kì khác nhau, được gọi là phân không ổn định. Phân thưòng nhão hoặc lỏng không thành khuôn đi từ 2 - 6 lần trong ngày, luôn cảm thấy không thoải mái sau khi đại tiện, có cảm giác mót muốn đi nữa. Dạng phân lỏng tóe nước ít gặp nếu triệu chứng này thường xuyên xảy ra ở người bệnh lớn tuổi cần lưu ý tìm khả năng bệnh ác tỉnh ở đại tràng.
6. Thăm khám ổ bụng:
Khi đau có thể sờ thấy khối đại tràng cứng chắc (gọi là thừng đại tràng) ở hố chậu trái, mạn sườn trái, mạn sườn phải hoặc hố chậu phải tùy theo vị trí mà đại tràng bị tổn thương. Thường tăng cảm giác đau ở da vùng tương ứng của đại tràng trên thành bụng khi sờ vào vùng đại tràng có thể thấy khu vực co thắt, chác, co cứng và những vùng giãn mềm, ấn tay vào thấy hơi di động dưới tay là dấu hiệu điển hình của bệnh khi có viêm nhiễm kèm theo ở khu vực chung quanh đại tràng (thưòng gặp, hơn là viêm quanh hồi manh tràng, viêm mạc treo ruột) ta sờ nắn vào vùng này người bệnh đau dữ dội hơn, gõ tuy nhẹ nhưng cũng đau đó là những vùng quá nhậy cảm trên thành bụng, ngoài cơn đau khám bụng thấy bình thường.
7. Cần thăm khám các bộ phận khác của bộ máy tiêu hóa:
Như gan mật, dạ dày, tụy tạng để phát hiện những tổn thương thứ phát hoặc phối hợp với viêm đại tràng.
Có thể thấy tình trạng thiếu vitamin nhẹ như viêm răng lợi, viêm lưỡi làm cho lưỡi dày trắng, hay chảy máu lợi, v.v…

III- TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

Rất quan trọng giúp cho xác định chẩn đoán.    
1. Xét nghiệm phân:
Tìm kí sinh vật, nuôi cấy vi khuẩn, xét nghiệm thành phần sinh hóa trong phân; xác định các chất hữu cơ acid béo, NH3, protid... 
- Tìm các dấu hiệu viêm nhiễm như: bạch cầu, hồng cầu, tế bào biểu mô ruột, chất nhầy.
- Tìm các dấu hiệu thức ăn tiêu hóa dở. 
+ Nếu quá trình lên men chiếm ưu thế. Khối lượng phân nhiều, phản ứng chua, nhiều tinh bột và các tế bào liên kết trong thức ăn đang tiêu hóa dở. Vi khuẩn ái iôd tăng cao.
+ Nếu quá trình thối rữa là chủ yếu. Phân nhão, phản ứng kiềm, mùi thối khẳm, phân có nhiều tế bào đang tiêu hóa dở, amôniac tăng cao.
- Xét nghiệm vi khuẩn trong phân. Có sự thay đổi rõ rệt về số lượng chung của vi khuẩn và chất lượng vi khuẩn, nhất là ở những bệnh nhân đã dùng nhiều kháng sinh đường ruột dẫn đến tình trạng loạn khuẩn (dysbacteria). Ở người viêm đại tràng mạn có thể thấy số lượng Rifidobarteri và lactobarteri giảm nhiều trong khi đó có tăng loại Encherichi., StaphylococuSy Streptococus hemolitica, gây bệnh và các loại nấm, men.
2. Nội soi:
Soi trực tràng ống cứng và soi đại tràng ống mềm.
Nhờ có ống soi mềm của đại tràng, người ta đã phát hiện bệnh lí một cách chính xác của hồi manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, là những vị trí rất khó xác định chẩn đoán viêm. Nhờ nội soi ta có thể quan sát bằng mắt những tổn thương của niêm mạc, và sinh thiết để xét nghiệm mô bệnh học.
Viêm đại tràng mạn thường thấy hiện tượng viêm long ở niêm mạc: Niêm mạc sung huyết phù nề lan tỏa hoặc thành từng đám. Nhìn rõ cả các tĩnh mạch giãn rộng ở lớp dưới niêm mạc. Có vùng niêm mạc được phủ lớp nhày đặc, từng cục, hay màng nhầy mỏng có thể thấy hình ảnh teo đét niêm mạc, màu hồng nhạt, xám; niêm mạc bằng phẳng, mỏng nhìn rõ mạng mao mạch dưới niêm mạc. Hoặc quan sát thấy sự phát triển đơn độc của polip (cục tròn nhô lên với chân nền rộng). Có trường hợp thấy có chảy máu từng điểm rải rác, hoặc loét trượt, ổ loét được phủ lớp nhầy trắng
Những chỗ nghi ngờ sinh thiết để xét nghiệm mô bệnh học, nhờ có kết quả này ta; có thể xác định phân loại viêm đại tràng mạn và các giai đoạn tiến triển của bệnh.
3. Chụp X quang đại tràng:
Để phát hiện sự thay đổi về hình thái, gián tiếp đánh giá tình trạng nhu động của đại tràng: có hai biện pháp chụp:
- Thụt tháo sạch đại tràng sau đó bơm chất cản quang vào đầy đại tràng cho đến manh tràng.
- Chụp transit ruột bằng cách cho người bệnh uống chất cản quang và theo dõi liên tục trong 36 giờ. Chụp từng thời gian và vị trí từng vùng của đại tràng. Phương pháp này có thể đánh giá nhu động của đại tràng trên cơ sơ sinh lý tự nhiên của bệnh nhân bằng cách quan sát các nếp gấp đối xứng hay không đối xứng, khoảng cách giữa các nếp gấp để nhận định mức độ tăng, giảm, mất trương lực của đại tràng. Quan sát kích thước, bề mặt của niêm mạc đại tràng.

IV- CHẨN ĐOÁN VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN
A- CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH DỰA TRÊN CÁC CƠ SỞ SAU

- Lâm sàng: Dau bụng, chựớng hơi, sôi bụng.
Thăm khám sờ thấy đại tràng trong cơn đau; ngoài cơn đau khám bụng bình thường, sờ thấy hơi di chuyển trong đại tràng. Triệu chứng quan trọng là phân không ổn định lúc lỏng, lúc táo bón, phân cổ thể có nhiều chất nhầy.
- Xét nghiệm cận lâm sàng có tính chất quyết định đặc biệt qua nội soi và kết quả mô bệnh học.
+ Chụp khung đại tràng, giúp cho chẩn đoán chức năng và chẩn đoán phân biệt bệnh lí của đại tràng chứ không xác định có viêm hay không.
+ Những thay đổi bệnh lí của phân trong giai đoạn tiến triển: loạn khuẩn, thành phần thức ăn đang tiêu hóa dở dang, lên men chua, phản ứng acid kiềm giữ vai trò quan trọng giúp chẩn đoán xác định.
Chẩn đoán xác định viêm đại tràng mạn cần phân biệt với bệnh lí của đại tràng khác như đa polyp, ung thư đại tràng và viêm loét đại tràng, chảy máu không đặc hiệu.

B- CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

1. Rối loạn chức năng vận động đại tràng:
Khi sờ nán vào đại tràng người bệnh không đau, xét nghiệm phân không thấy thay đổi vi khuẩn và các thành phần sinh hóa trong phân. Tuy nhiên rất khó chẩn đoán phân biệt giữa các rối loạn chức năng đại tràng và giai đoạn ổn định của viêm đại tràng mạn.
2. Hội chứng dại tràng bị kích thích: 
Gây rối loạn vận động và bài tiết. Bệnh nhân mất ngủ có những cơn đau dữ dội kiểu co thắt. Khi thăm khám bụng sờ thấy đại tràng cứng, ngoài cơn đau bụng bình thường. Phân thường táo, khuôn nhỏ lẫn chất nhầy.
Nội soi đại trực tràng thấy bình thường.
Xét nghiệm phân: không có rối loạn sinh hóa, thành phần vi khuẩn bình thường.
X quang chụp khung đại tràng: Các nếp gấp đối xứng, dày nhiều, kiểu co thắt.
3. Viêm loét đại trực tràng chảy máu:
Không đặc hiệu dựa trên kết quả nội soi, sinh thiết xét nghiệm giải phẫu bệnh lí học để loại trừ.
4. Phân biệt với các khối u ở dại tràng:
Nhất là ở đại tràng xichma, trực tràng, góc hồi manh tràng. Qua X quang, nội soi, sinh thiết để xác định giải phẫu bệnh học.

V- ĐIỀU TRỊ VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

1. Loại trừ nguyên nhân gây bệnh:
- Nhiễm khuẩn: Trong đợt tiến triển, có tình trạng nhiễm khuẩn ruột do kháng sinh: Bisepton cho 0,48gam đến l,5gam trong 24 giờ, hoặc các loại kháng sinh khác như: ganidan, tetracyclin... Dợt điều trị từ 7 - 10 ngày không nên dùng kéo dài vi gây loạn khuẩn.
- Cho thuốc tẩy kỉ sinh vật nếu có.
- Loại trừ các chất độc và thuốc gây tổn thương ruột như: thuốc tẩy...
Chế độ ăn uống rất quan trọng; không nên ăn kiêng khem quá mức đưa đến suy dinh dưỡng. Mỗi bệnh nhân tự loại những thức ăn không thích hợp cho mình, giữ cân bằng trong khẩu phần ăn, tránh các thức ăn khó tiêu hóa: Đồ thức ăn rán, thức ăn khó tiêu.
Nếu có rối loạn phân do lên men chua. Giảm các thức ăn dễ lên men như: đường, sữa nguyên...
Nếu có rối loạn do tăng quá trình thối rữa: Thức ăn nên giảm protid tăng cường thức ăn để vi khuẩn thối rữa không phát triển. Nên ăn sữa chua, dưa chua...
Nếu táo bón do giảm vận động nên ăn thức ăn kích thích tăng nhu động như: sữa chua, củ cải, khoai lang... 
2. Cho các thuốc chống loạn khuẩn: 
Xuptilit uống, Bioílor, BiolactylColi subtil, uống 2 - 4 ống trong 24 giờ, đợt điều trị từ 10 đến 20 ngày.
Vitamin nhóm B: vitamin Bl, B6.
3. Rối loạn vận dộng:
Tuỳ theo giai đoạn, bệnh nhân bị ỉa lỏng hay táo bón chiêm ưu thế để chọn các loại thuốc thích hợp.
Dùng lí liệu pháp: Điện phân, chườm nóng, paraphin.
4. Điều trị tại chỗ:
Đưa thuốc qua hậu môn để chông viêm, chống đau.
5. Giảm kích thích thần kinh:
- Tâm lí liệu pháp. Bệnh nhân hiểu bệnh của mình, yên tâm điều trị, phối hợp với thầy thuốc.
- Cho các thuốc an thần và giảm đau trong đợt tiến triển
- Điều trị củng cố ỗ viện điều dưỡng.

VI - PHÒNG BỆNH VIÊM ĐẠI TRÀNG MẠN

- Điều trị kịp thời bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm kí sinh vật ở ruột.
- Giữ vệ sinh ăn uống: Điều độ, cân đối khẩu phần thức ăn.
- Loại trừ nguyên nhân độc do nghề nghiệp, thuốc.
- Điều trị tích cực các bệnh gan mật, tuỵ, dạ dày, tránh viêm đại tràng mạn thứ phát

 

 

 
(E-mail)
 
Type the characters you see in the picture below.

 

1
Bài Viết Cùng Chuyên Mục
  Sỏi Mật
  Loét Dạ Dày Tá Tràng
  Viêm Ruột Thừa
  Viêm Màng Bụng
  Tắc Ruột
  Lồng Ruột
  Bệnh Trĩ
  Rò Hậu Môn
  Bệnh Lỵ AMIP
1
Tin Tức Cùng Chuyên Mục
  Phát hiện hai gene thủ phạm gây ung thư ruột
  Những điều cần biết về viêm đại tràng mãn tính
1
 

Thông tin trên Website : www.thaythuocdongy.com  chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.