thầy thuốc đông y
Danh Mục Chính
  Thực Phẩm Chức Năng
  Danh Sách Phòng Khám

  Danh Sách Bệnh Viện
  Bài Thuốc Y Học Cổ Truyền
  Video
  Hỏi Đáp
Thầy Thuốc Đông Y
  Bùi Thị Năm
  Trần Quốc Hoàn
  Bác sĩ nhân dân
  Amway Advisor
  Ms Cathy
  Mis Hana
  Mr DHA
  Vũ Văn Khánh
  Vũ Thị Hải Phượng
  Nguyễn Thị Thùy Dương
HLV Dinh Dưỡng
  Amway Advisor
  Ms Cathy
  Mis Hana
Khí Công Dưỡng Sinh
  Mr DHA
Danh Mục Bệnh
 
  Viêm Phế Quản Mãn Tính

VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH LÀ GÌ ?
I- ĐẠI CƯƠNG VÀ ĐỊNH NGHĨA

  Viêm phế quản mạn tính là tình trạng tăng tiết dịch nhầy của niêm mạc phế quản gây ho và khạc đờm liên tục hoặc tái phát từng đợt (khoảng 3 tuần lễ) ít nhất là ba tháng trong 1 năm và ít nhất lã 2 năm liền.
 Có nhiều tác giả phê phán định nghĩa trên vì chỉ dựa vào lâm sàng và chủ quan khi hỏi bệnh, không đề cập đến tổn thương giải phẫu bệnh và  kết quả thăm dò chức năng hô hấp. Cũng có tác giả thấy trong thể viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn thì triệu chứng khó thở nổi bật. Tuy nhiên cho đến nay Tổ chức Y tế thế giới và các nhà nghiên cứu -viêm phế quản mạn tính vẫn dùng định nghĩa này và cũng là tiêu chuẩn chẩn đoán vì lợi ích của nó trong nghiên cứu dịch tễ học. 
  Viêm phế quản mạn tính được Laenec mô tả năm 1826 và xếp vảo nhóm bệnh phổi không đặc hiệu. Các tác giả Mỹ thay danh từ viêm phế quản mãn tính  bằng danh từ: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (chronic obstructive pulmonạry cisease). Bệnh rất phổ bịến: Ở Pháp viêm phế quản mạn tính chiếm 5% dân số nếu chỉ tính nam giới thì tỉ lệ ấy là 18%, ở Anh người ta thấy khoảng 47% số ngựời ở lứa tuổi 55 bị bệnh.

    Tỉ lệ tử vong cũng khá cao, ở Mỹ (1964) có khoảng 80.000 người và ở Pháp có từ 10.000-30.000 người chết do viêm phế quản mạn tính mỗi năm (VISERM 1986 ) ở VIỆT  NAM bệnh chưa được điều tra cơ bản rộng rãi nhưng chắc chắn không kém phần phổ biến. Tại khoa hô hấp bệnh viện Bạch Mai có 12% bệnh nhân bị viêm phế quản mạn tính phải nằm điều trị nội trú (Chu Văn Ý 1986). Viêm phế quản mạn tính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tâm phế mạn .

VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH LÀ GÌ ?
I- ĐẠI CƯƠNG VÀ ĐỊNH NGHĨA
II- NGUYÊN NHÂN VIÊM PHẾ QUẢN
III- GIẢI PHẪU BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN
IV- PHÂN LOẠI VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH
      1. viêm phế quản mãn tính đơn thuần :
      2.  Viêm phế quản mạn tính nhầy-mủ :
      3. Viêm phế quản mạn tính tắc  nghẽn:
V-    TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VIÊM PHẾ QUẢN
VI-TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM  SÀNG VIÊM PHẾ QUẢN
      A- DẤU HIỆU X QUANG

      B- SOI PHỂ QUẢN
      C - THĂM DÒ CHỨC NĂNG HÔ HẤP
      D- XÉT NGHIỆM BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN

VII-CHẨN ĐOÁN VIÊM PHẾ QUẢN
      2.    Chẩn đoán giai đoạn:
      3.    Chẩn đoán phân biệt:
      4.    Chẩn đoán nguyên nhân viêm phế quản:
VIII- TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG 
IX- ĐIỀU TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN
      1. Thể viêm phế quản đơn thuần:
      2. Điều trị viêm phế quản đợt cấp :

II- NGUYÊN NHÂN VIÊM PHẾ QUẢN

   Những nguyên nhân trực tiếp hoặc góp phần làm cho bệnh phát triển một cách dễ dàng phải kể đến:    

- Thuốc lá, thuốc lào: theo Oswald thì 88% số người nghiện thuốc lá bị bệnh viêm phế quản mạn tính. Nhiều tác giả cũng thấy tỉ lệ ở người nghiện thuốc lá cao hơn nhiều  so với người không hút. Thực nghiệm cho thấy hít khói thuốc lá kéo dài làm giảm vận động tế bào có lông của, niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào của phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết chất nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu hủy protêin. Khói thuốc lá kích thích cơ quan cảm thụ, kích thích dưới niêm mạc phế quản thông qua sợi thần kinh vague làm co thắt cơ trơn  phế quản. Người ta cũng thấy hiện tượng tắc nghẽn đường hô hấp giảm đi sau khi bỏ thuốc (VEMS tăng). Những trẻ em mà cha mẹ hút thuốc lá cũng dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp. Vai trò của: khói thuốc lá đối với viêm phế quản mạn tính đã được thế giới công nhận .

- Bụi trong khí quyển: người ta thấy dịch tễ học của viêm phế quản mạn tính cao ở những vùng công nghiệp. Những đợt cấp của bệnh có liên quan đến bụi SO2- Thực nghiệm gây đựợc viêm tiểu phế quản tắc nghẽn bằng bụi NO2 trên súc vật, trên người chưa được chứng minh. 

-  Nghề nghiệp: những người làm nghề tiếp xúc nhiều và kéo dài với bụi vô cơ và bụi hữu cơ như công nhân mỏ than, uranium, pyrit, luyện kim, thợ cán bông làm nhựa... dễ bị viêm phế quản mạn tính và chức năng hô hấp ở những người này bị giảm hơn người thở không khí trong lành.

-  Nhiễm khuẩn: bệnh có liên quan tới nhiễm virus và vi khuẩn khác như hemophylus inluenza, streptococcus pneumoniae. Người ta tìm thấy Rhinovirus trong các đợt cấp của bệnh. Những người nghiện thuốc lá bị nhiễm nhẹ đưòng hô hấp trên cũng làm cho bệnh nặng thêm, viêm phổi do virus cũng dẫn đến viêm tiểu phế quản mạn tính tắc nghẽn. 
Những ổ viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển. Nhiễm khuẩn chỉ đóng vai trò thứ yếu làm cho bệnh tiến triển và nặng thêm.

-  Yếu tố dị ứng: Cơ địa dị ứng.
Là yếu tố thuận lợi cho bệnh phát triển những ổ viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển. Nhiễm khuẩn chỉ đóng vai trò thứ yếu làm cho bệnh tiến triển và nặng thêm .
- Yếu tố tuổi và giới: bệnh của người lớn tuổi thường trên 40 tuổi, tuổi cao tỉ lệ mắc bệnh càng lớn tuổi thanh niên cũng bị vì Hút thuốc lá, thuốc lào. Nam giới bị nhiều  hơn nữ giới.    

-Tính chất gia đình: người ta thấy con cái của những gia đình mà bố mẹ hút thuốc
lá dễ bị viêm phế quản nhiều hơn.
-   Tính chất di truyền: một số tác giả thấy
Những người có nhóm máu O dễ, bị bệnh phổi mạn tính (asuma). Người ta cũng thấy men anpha 1-antitripsin ở người viêm phế quản mạn tính thấp hơn người bình thường. Bệnh Mucovicidose (ilbrose kystique của tuyến tụy) có rối loạn hô hấp và rối loạn bài tiết chất nhầy của tuyến phế quản.
-    Yếu tố xã hội: người ta nhận thấy rằng những người sống ở những quận nghèo khổ tỉ lệ mắc bệnh cao hơn những người sống ở những quận có đời sống sung túc (Fréour- Bordeau). Đời sống xã hội càng thấp thì khả năng mắc bệnh càng cao.

-    Khí hậu ẩm ướt, nhiều sương mù cũng là yếu tố thuận lợi.

III- GIẢI PHẪU BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN

    Tổn, thương giải phẫu bệnh, không đặc hiệu. Tổn thương từ khí quản phế quản lớn đến những phố quản nhỏ. tận  cùng, có hai yếu tố thay đổi chính:
- Tuyến, tiết chất nhầy của niêm mạc phế quản phì đại và quá sản, quá sản các tế bào hình  đài (caliíbrme) của biểu mô phế  quản;
- Hình ảnh viêm mạn tính không đặc hiệu có sự xơ hóa và phá hủy, khi cổ phối hợp giãn phế nang thì lớp cơ của mạch máu dày lên, lưới mao mạch cũng bị phá hủy và thưa thớt ,tổ chức đàn hồi của nhu mô phổi cũng bị biến đổi. 

IV- PHÂN LOẠI VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH
1. viêm phế quản mãn tính đơn thuần :

(bronchite chronique simple ) : 

2.  Viêm phế quản mạn tính nhầy-mủ :

(Bronchite chronique mucopurulente) trong quá trình tiến triển ho và khạc đờm nhầy mủ cách quãng, từng đợt bị kịch phát hoặc liên tục.

3. Viêm phế quản mạn tính tắc  nghẽn:

(Bronchite chronique obstructive) hoặc thể viêm phế quản khó thở: thể này nặng nhất, có thể viêm phế quản mạn tính đơn thuần hoặc nhầy mủ nhưng triệu chứng chính là khó thở, do tắc nghẽn lan rộng, và thường xuyên của phế quản làm tổn Thương đến chức năng thông khí và trao đổi khí của phổi. Còn gọi là bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn đường thở nhỏ do Macklen mô tả năm 1971 (maladie chronique obstructive des petites voies aerinenes ) . 

V-    TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VIÊM PHẾ QUẢN

Viêm phế quản mạn tính là bệnh của người có tuổi (trên dưới 50 tuổi), phần lớn là bệnh của nam giới, có nghiện thuốc lá, thuốc lào. Bệnh bắt đầu từ lúc nào khó biết. "Khi bệnh đã rõ thì những triệu chứng chính là:
-    Ho và khạc đờm: thường ho và khạc đờm vào buổi sáng như rửa phế qụản; đờm có thể nhầy, trong, dính hoặc màu xanh, vàng đục như mủ. Lượng đờm trong 24 giờ, khoảng 200ml. Mỗi đợt ho khạc đờm kéo dài  khoảng 3 tuần lễ nhất là những tháng mùa đông, đầu mùa thu.
-    Đợt cấp của viêm phế quản mãn tính: thỉnh thoảng vượng lên một đợt cấp nhất là ở người già, thường do bội nhiễm. Trong đợt cấp có những triệu chứng như sau: ho, khạc đờm có mủ, khó thở như cơn hen, nghe phổi có ran rít, ran ngáy và ran ẩm, rì rào phế nang giảm. Triệu chứng nhiễm khuẩn có khi rõ rệt, thường là kín đáo. Bệnh nhân có thể tử vong trong đợt suy hô hấp cấp này.
Triệu chứng lâm sàng của viêm phế quản mạn tính còn tùy thuộc vào loại viêm phế quản và giai đoạn của bệnh.
Phân chia giai đoạn của viêm phế quản mạn tính
Giai đoạn 0:
    - Không có rối loạn hô hấp (không khó thở)
    - Không có rối loạn chủc năng hô hấp
Giai đoạn 1:
-    Họ dai dẳng
-     Khạc đờm dai dẳng
-    Ho và khạc đờm ít nhất là 3 tuần lễ
-    Khó thở độ 2 (khó thở vừa phải, khi leo thang gác hết tầng 2 hoặc leo dốc nhẹ (theo Sadoul)
Giai đoạn 2:
-    Giống như giai đoạn 1 nhưng thêm:
-    Ho và khạc đờm trên 3 tuần lễ mỗi năm
-    Khó thở độ 3 (khó thở khi đi bình thường trên mặt phẳng) (theo Sadoul)
-    Nghe phổi có ran rít, ran ngáy    
-    Có khó thở như hen
-    Có sự biến đổi rõ rệt thông khí phổi.
Giai đoạn 3:
-    Như giai đoạn 2 nhưng thêm:     
-    Rối loạn chức năng hô hấp

-    Khó thở nặng hơn (khó thở khi đi chậm, làm động tác rất nhẹ)
Giai đoạn 4 :
-    Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng như những triệu chứng đã mô tả trên, nhưng rối loạn chức năng hô hấp nặng, khó thở rất nhiều (khi đi chậm phải đừng lại để thở )
-    
Giai đoạn 5: 
- Bệnh phổi tắc nghẽn rất nặng và khó thở nặng thêm (khó thở khi
làm động tác nhẹ: chải đầu, đứng lên, ngồi xuống...) rối loạn chức nâng hô hấp rất nặng.

VI-TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM  SÀNG VIÊM PHẾ QUẢN
A- DẤU HIỆU X QUANG

- Chiếu chụp phổi rất cần thiết để loại trừ những bệnh có dấu hiệu ho và khạc đờm kéo dài giống viêm phế quản mạn tính như: ung thư phế quản, lao phổi, giãn phế quản.
Hình ảnh X quang của viêm phế quản mạn tính không thấy gì đặc hiệu chỉ thấy hai rốn phổi đậm, có những đường đậm chạy xuống cơ hoành, có thể thấy cung động mạch phổi phình ra, và là dấu hiệu sớm của tăng áp lực động mạch phổi ở giai đoạn 1. Khi có giãn phế quản thấy hình lồng ngực thay đổi, xương sườn nằm ngang, khoang liên sườn rộng, hai vòm hoành đẩy xuống, hai đỉnh phổi đẩy lên, hình tim dài và bé, hai phổi quá sáng.
-    Chụp phế quản có chất cản quang (Lipiodol): thấy vách phế quản không đều ở thế hệ 3-4, không thấy biến đổi khấu kính (calibre) có thể thấy phế quản bị tắc do chất nhầy, ống tuyến bị đỏ, dày, có thể thấy hình ảnh giãn phế quản. Khi có giãn phế nang trung tâm tiểu thùy (emphysẽme centro-lobulaire): phế quản ngấm thuốc không đều. 
-    Chụp động mạch phế quản : có thệ tháy giãn động mạch phế quản, có cầu nối động mạch phế quản-động mạch phổi.
-    Scintigraphie (chụp nhấp nháy): dùng chất đồng vị phóng  xạ Sénon 133 có thể  thấy sự phân bố khí không đều trong các phế nang, dùng chất đồng vị phóng xạ I131, technitium 99, có thể thấy sự phân bố máu không đều trong phổi, những dấu hiệu này chỉ xuất hiện ở giai đoạn 3 và giai đoạn nặng hơn.


B- SOI PHỂ QUẢN


Có thể thấy vách phế quản dày, niêm mạc phế quản nhạt màu, có chỗ sung huyết, có hình ảnh viêm nhiễm ở những phế quản lớn. Có thể thấy phế quản xẹp khi thở ra. Có thể thấy viêm phế quản lan tỏa hay viêm phế quản cục bộ. Soi phế quản để loại trừ khối u, sinh thiết, hút dịch phể quản để tìm tế bào ung thư và tìm vi khuẩn.


C - THĂM DÒ CHỨC NĂNG HÔ HẤP


ở giai đoạn chưa có rối loạn về chức năng hô hấp hoặc có biểu hiện rất nhẹ:
-    R (Airway Résitance= sức cản đường thở) tăng rất sớm ở giai đoạn 1 có thể biểu hiện 2cm H2O/lít/sec tăng lên rõ rệt ở giai đoạn 3-4-5. Khi đo bằng thể tích kí thân (Body-plethymograph).
-    VEMS (hoặc FEV1) giảm ở giai đoạn 2 và giảm nặng hơn ở giai đoạn muộn.
-    VC: giảm ở giai đoạn 3 trở đi.
-    Chỉ số Tiffeneau giảm ở giai đoạn 2 trở đi.
-    RV (thể tích khí cận) tàng lên khi có giãn phế nang.
-    RV/TC (thể tích cặn/thể tích phổi toàn bộ) tăng vào giai đoạn cuối.
-    PaC2 giảm nhẹ ở giai đoạn 2-3 và giảm nâng ở giai đoạn 4-5.
-    SaC2 chỉ giảm nhẹ ở giai đoạn 4 trở đi.    
-    PaC02 tăng rất muộn chỉ ở giai đoạn 5.
-    pH máu cá thê’ vẫn chưa có sự thay đổi hoặc giảm ở giai đoạn cuối khi có suy  hô hấp toàn phần.
-    Có thể có rối loạn tỉ số V°/Q° (thông khí/tuần hoàn phổi/phút) vào giải đoạn cuối
- DLO2-DLCO (khuếch tán khi của phổi) bị giảm khi có kèm theo giãn phế nang         
Nói tóm lại về chức năng hô hấp chỉ có rối loạn từ giai đoạn 2 trở đi và nhạy nhất là tăng R và giảm VEMS . Biểu hiện sự rối loạn thông khí tắc nghẽn là sớm nhất .

D- XÉT NGHIỆM BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN

-    Cấy đờm để tìm vi khuẩn, làm kháng sinh đồ và chọn kháng sinh thích hợp nhất là trong đợt bội nhiễm. 
-    Luôn nhớ phải tìm :BK nhiều lần (ít nhất 3 lần).    
-    Xét nghiệm máu: thấy số iừợng hồng cầu tăng, hématocrit tăng vào giai đoạn muộn. Bạch cầu tăng và tốc độ máu lắng tăng trong các đợt bội nhiễm.


VII-CHẨN ĐOÁN VIÊM PHẾ QUẢN

Dựa vào:
-    Hỏi bệnh: phần lớn là nam giới từ 40-50 tuổi có nghiện thuốc lá, thuốc lào, ho và khạc đờm thường về buổi sáng, từng đợt khoảng 3 tuần lễ mỗi năm 3 tháng và ít nhất 2 năm liền.    
-    Có từng đợt kịch phát như đã mô tả ở trên
-    X quang: rốn phổi hai bên đậm.

2.    Chẩn đoán giai đoạn:

-     Như đã mô tả ở trên.   

3.    Chẩn đoán phân biệt:

-    Lao phổi: trong lao phổi phải kể đến lao hang có biểu hiện triệu chứng phế quản, cần chụp phổi thấy tổn thương ở vùng đỉnh phổi và hạ đòn, tìm BK nhiều lần
-    Hen phế quản: Khó phân biệt với thể hen mạn tính trọng hen, có viêm phế quản, hỏi kĩ tiền sử, tính chất cơn hen. Làm nghiệm pháp Acetycholin, trong hen nghiệm pháp
này nhạy hơn trong viêm phế quản.
-    Ung thư phế quản: ở nam giới tuổi từ 40 đến 60, ho khan hoặc ho có đờm kéo dài,
có thể ho ra máu-ít, máu dính đờm vào buổi sáng. Dùng các thuổc giảm ho, chống viêm
không đỡ. Cân tìm biện pháp để chẩn đoán: X quang phổi, soi phế quản và hút dịch để
tìm tế bào ung thư .
-    Giãn phế quản: ho và khạc đờm nhiều, ho ra máu tái phát, cần chụp phế quản có Lipiodol thấy phế quản giãn hình ống, hình túi hoặc hình tràng hạt.
-    Giãn phế nang: có thể viêm phế quản mạn tính mà không có hoặc chưa có giãn phế nang, hoặc giãn phế nang mà không có triệu chứng của viêm phế quản mạn tính. Một số đặc điểm để phân biệt: 
           Giãn phế nang
           Khó thở: nặng
           Ho: xuất hiện sau khó thở
           Viêm đường hô hấp: ít .
           Suy hô hấp vào giai đoạn cuối
           X quang: lồng ngực căng, phổi quá sáng R (sức cản đường thở) tăng nhẹ 
           DLCO (khuyếch tán khí của phổi giảm nhiều ) 
-    Viêm phế quản mạn tính
         - vừa
         - Xuất hiện trước khó thở
         - Rất thường gặp
         - Từng đợt cấp 
         - Các nhánh phế huyết quản đậm 
         - Tăng nhiều
         - Giảm ít 

4.     Chẩn đoán nguyên nhân viêm phế quản:


         - Thuốc lá, thuốc lào: hút nhiều điếu trong ngày, nhiều năm.
         - Nghề nghiệp: công nhân mỏ than, mỏ đá, xi măng... và những nghề ngiệp tiếp xúc với nhiều bụi vô cơ và hữa cơ .
         - Các ổ nhiễm khuẩn đường hô hấp trên.    
         - Phát hiện di truyền và cơ địa di ứng.

VIII- TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG 

Bệnh bắt đầu rất nhẹ không để ý vì không ảnh hưởng đến lao động và sinh hoạt. Bệnh tiến triển từ từ trong 5-10-20 năm, trong quá trình tiến triển có những đợt kịch phát, sau những đợt suy hô hấp cấp, bệnh lại nặng thêm dần dần đi đến tan phế phổi. Theo Bates thì khoảng 10 năm; theo Emergil khoảng 15 năm là bệnh tiến triển đến giai đoạn nặng. Theo chúng tôi thấy tùy thuộc nguyên nhân, có người hen phế quản sau 20 năm vẫn chưa có dấu hiêu suy tim phải, nhưng có người triệu chứng viêm phế quản rõ rệt và sau 3 năm đã có triệu chứng suy hô hấp.

Trong quá trình tiến triển có những biến chứng :
-  Bội nhiễm phổi: viêm phổi khối ở người già, viêm phổi thùy, lao phổi, áp xe phổi.
-  Giãn phế nang
-  Suy hô hấp Cấp.    
-  Suy tim phải là biến chứng cuối cùng 
- Bỏ các yếu tố kích thích: thuốc lá, thuốc lào.
- Có biện pháp bảo hộ lao động cho những người tiếp xúc với môi trường có nhiều bụi như công nhân làm ở hầm mỏ.

- Xây dựng các xí nghiệp xa vùng dân cư và ngược chiều gió
- Phát hiện yếu tố di truyền
- Giảm miễn dịch ở những người có nghề nghiệp dễ bị bệnh.
- Chống nhiễm virus: tiêm chủng, chống cúm vào mua thu, đông.
- Điều trị tốt các ổ nhiễm khuẩn đường hô hấp trên.
- Cho kháng sinh vào những tháng mùa lạnh, mỗi đợt 10 ngày (loại cyclin, ampicilin,
Sulfamid).

X- ĐIỀU TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN
1. Thể viêm phế quản đơn thuần:

- Chỉ cần điều trị dự phòng:
- Vacxin phòng cúm vào các mùa thu-đông.
- Vacxin chống vi khuẩn.
- Bỏ hút thuốc lá, thuốc lào.
- Thể dục liệu pháp tập thở ở bụng.

2. Điều trị viêm phế quản đợt cấp

 - Dẫn lưu đờm theo tư thế, cho bệnh nhân nằm tư thế thích hợp kết hợp xoa bóp gõ rung lồng ngực để dễ khạc đờm    
- Cho các thuốc long đờm.
- Có triệu chứng suy hô hấp, giảm oxy máu: cho thở oxy là rất quan trộng (thở ngắt quãng, nhiều lần trong ngày) nếu có tăng CO2 có thể hô hấp trợ lực-thở máy. 
- Nếu có dấu hiệu tắc nghẽn co thắt phế quản: cho thuốc nở phế quản như theophylin uống, Aininophylin tiêm tĩnh mạch chậm.    
-  Corticoid: Depersolon tiêm tĩnh mạch, Prednison uống (để chống phù nề, dị ứng viêm dùng liều nhẹ).    
- Cho các kháng sinh như: loại cyclin, ampicilin erythromicin lg-1,5 g/ngày, sulfamid.
Viêm phế quản mạn tính là bệnh nhẹ, rất phổ biến nhưng nếu không được phát hiện, không biết phòng bệnh và không được điều trị, khi xuất hiện triệu chứng khó thở thì tiên lượng rất xấu, dẫn đến suy phổi rồi suy tim.

 
(E-mail)
 
Type the characters you see in the picture below.

 

1
Bài Viết Cùng Chuyên Mục
  Viêm Phế Quản Cấp
  Viêm Phổi
  Viêm Phổi Ở Trẻ Em
  Khó Thở
  Tràn Dịch Màng Phổi
  Hen Phế Quản
  Hóc xương
1
Tin Tức Cùng Chuyên Mục
  Viêm Phế Quản Cấp
1
 

Thông tin trên Website : www.thaythuocdongy.com  chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.